Get Adobe Flash player

ABA2019

Bài viết

Tìm giải pháp phát triển an toàn ngành chăn nuôi ở An Giang và Đồng bằng sông Cửu Long

Ngày 2/7, tại thành phố Long Xuyên, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Chăn nuôi và Thú y, Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên thiên nhiên-Trường Đại học An Giang tổ chức Hội thảo khoa học “Định hướng nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển chăn nuôi tỉnh An Giang thích ứng với hội nhập và công nghệ 4.0”.

Thạc sĩ Lê Minh Tùng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang

Hội thảo diễn ra trong bối cảnh ngành chăn nuôi heo của tỉnh An Giang cũng như các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với sự bùng phát bệnh dịch tả heo Châu Phi và một số thách thức về biến động giá cả, an toàn thực phẩm… nên đã thu hút gần 100 nhà quản lý, nhà khoa học, các doanh nghiệp và người chăn nuôi tiêu biểu đến từ các cơ quan nghiên cứu khoa học, các Viện, Trường, Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật và các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhằm tìm ra một số giải pháp mang tính đột phá cho ngành chăn nuôi của tỉnh An Giang nói riêng và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nói chung phát triển một cách hiệu quả và bền vững trong thời gian tới.

Bà Nguyễn Thị Xoàn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh An Giang cho biết, toàn tỉnh An Giang có khoảng 2.780 con trâu; hơn 73.300 con bò; 4,13 triệu con gia cầm. Ước sản lượng thịt hơi cả năm đạt khoảng 29,5 ngàn tấn. Riêng thịt hơi trầu, bò xuất chuồng đạt 7,2 ngàn tấn, trong đó sản lượng thịt bò là 6,9 ngàn tấn; tổng đàn heo đạt hơn 113 ngàn con, cho sản lượng thịt hơi xuất chuồng 15,365 ngàn tấn; sản lượng thịt gia cầm đạt 6,9 ngàn tấn; trong đó thịt vịt chiếm khoảng 4,168 ngàn tấn. Sản xuất trứng gia cầm đạt 361 triệu quả, trong đó trứng vịt đạt 360 triệu quả.

Theo bà Xoàn, trong giai đoạn 2015- 2018, chăn nuôi gia súc, gia cầm ở An Giang có xu hướng giảm về quy mô đàn; chăn nuôi công nghiệp còn kém phát triển, chủ yếu chăn nuôi quy mô nhỏ, hộ gia đình nhằm tận dụng các nguồn cây cỏ và các loại phụ phế phẩm nông nghiệp; đầu tư về tài chính và công nghệ vào chăn nuôi còn hạn chế. Việc kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào chăn nuôi hiện còn gặp nhiều khó khăn, các đề tài nghiên cứu khoa học về chăn nuôi còn ít; các mô hình chăn nuôi dê, cừu, thỏ và các loài động vật khác được người dân nuôi nhưng chưa được quan tâm và chưa có sự đầu tư của tỉnh về phát triền khoa học công nghệ và tiếp cận thị trường…

Theo Thạc sĩ Lê Minh Tùng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang, trong bối cảnh ngành chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn, thách thức như hiện nay, nhất là khi Việt Nam vừa gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) thì việc xây dựng các mô hình hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị được cho la giải pháp tối ưu trong tái cơ cấu ngành chăn nuôi nhằm phát triển bền vững, ổn định và duy trì sản xuất theo hướng sản xuất gắn với tiêu thụ, sản xuất theo hướng hữu cơ, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

Thạc sĩ Lê Minh Tùng cho rằng, ngành chăn nuôi của tỉnh An Giang và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long muốn phát triển được phải tiến tới xuất khẩu, giá thành chăn nuôi ít nhất phải bằng giá thành của các nước trong khu vực; đảm bảo an toàn dịch bệnh và truy xuất được nguồn gốc.

“Chăn nuôi theo quy mô nhỏ lẻ có ưu điểm tận dụng được nguồn nhân lực, lao động gia đình, đất đai, thức ăn, nhất là phụ phẩm nông nghiệp; không cần nhiều vốn hoặc kỹ thuật cao, dễ quản lý, tạo thêm nguồn thu nhập cho các gia đình ở khu vực nông thôn. Song, chăn nuôi quy mô nhỏ có nhược điểm là khó kiểm soát dịch bệnh, chất lượng sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm; năng suất thấp, khó tiếp cận thị trường tiêu thụ, dễ bị ép giá; ô nhiễm môi trường… Đặc biệt, khi Việt Nam gia nhập CPTPP, sản phẩm chăn nuôi theo phương thức nhỏ lẻ sẽ khó có chứng nhận nguồn gốc, dó đó khâu tiêu thụ gặp nhiều khó khăn”- Thạc sĩ Lê Minh Tùng phân tích.

Trước những thách thức trên, theo Thạc sĩ Lê Minh Tùng, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần phải liên kết phát triển ngành chăn nuôi theo mô hình chuỗi giá trị. Mục tiêu là xây dựng chuỗi liên kết khép kín từ chăn nuôi, giết mổ đến tiêu thụ sản phẩm; kiểm soát được chất lượng từ khâu con giống đến sản phẩm cuối cùng bán ra thị trường; đảm bảo lợi ích và tạo nguồn đầu ra ổn định cho người chăn nuôi; cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định, chất lượng cho các doanh nghiệp sản xuất và chế biến, đảm bảo lợi ích người tiêu dùng.

Trong liên kết chăn nuôi giữa người dân và doanh nghiệp, thì doanh nghiệp là đơn vị cung ứng con giống, thức ăn, hỗ trợ kỹ thuật, thuốc thú y và bao tiêu sản phẩm; người chăn nuôi xây dựng chuồng trại, hệ thống xử lý chất thải theo yêu cầu của doanh nghiệp, tổ chức sản xuất và nhận kinh phí theo hợp đồng ký kết…

Tuy nhiên, các hình thức liên kết trong chăn nuôi nếu vận hành tốt sẽ tạo ra bước đột phá cho ngành chăn nuôi. Song, để thực hiện được các chuỗi liên kết đó, Nhà nước cần có chính sách giúp người chăn nuôi vay vốn ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi để người dân và doanh nghiệp tham gia chuỗi.

Mặt khác, các hộ chăn nuôi cũng cần có sự liên kết với nhau, tạo ra những mô hình chăn nuôi có quy mô lớn, tạo được chuỗi cung ứng sản phẩm ổn định và đủ lớn để liên kết bền vững với các doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến tiêu thụ.

Xây dựng chuỗi liên kết trong sản xuất và tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi an toàn được xem là giải pháp hữu hiệu nhằm đưa ra các sản phẩm an toàn đến tay người tiêu dùng. “Đó là con đường ngắn nhất thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi, tạo chuỗi giá trị sản phẩm bền vững, góp phần ổn định kinh tế cho người chăn nuôi”- Thạc sĩ Lê Minh Tùng nhấn mạnh.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thu- Trường Đại học Cần Thơ, trong bối cảnh hiện nay, sản phẩn chăn nuôi hữu cơ và an toàn cho con người được cho là mục tiêu sản xuất để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Do đó, phát triển ngành chăn nuôi trong thời đại công nghiệp 4.0 đòi hỏi chúng ta phải áp dụng một nền sản xuất thông minh, sáng tạo trên nền tảng ứng dụng kỹ thuật số và kết nối các thiết bị thông minh để điều khiển từ xa trong quá trình sản xuất, chăn nuôi (chăn nuôi bò, lợn, gà công nghiệp,...) nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm lao động, truy xuất được nguồn gốc sản phẩm, đồng thời mang lại lợi nhuận nhiều hơn cho người chăn nuôi.

“Hiệu quả từ các mô hình áp dụng thành tựu của công nghệ 4.0 vào trong chăn nuôi là không phải bàn cải; tuy nhiên, cần phải có sự đầu tư tài chính tương xứng, trên cơ sở áp dụng các thành tựu của nghiên cứu khoa học vào trong thực tiễn và ứng dụng trong chăn nuôi một cách sáng tạo với các thiết bị thông minh thích hợp”- Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thu khuyến cao.

Mặt khác, công tác phát triển chăn nuôi và nghiên cứu khoa học để xác định và chọn lọc vật nuôi ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều hạn chế, chưa phát triển được những vật nuôi chủ lực, là thế mạnh của từng địa phương để tập trung đầu tư phát triển. Do đó, theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thu, tỉnh An Giang cũng như các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cần đánh giá lại công tác nghiên cứu khoa học về chăn nuôi và thú y những năm qua, để thay đổi cơ bản trong tư duy về nghiên cứu, thăm dò; các dự án chăn nuôi và nghiên cứu khoa học về chăn nuôi-thú y cần phục vụ cho sự đầu tư phát triển, hướng đến mục tiêu sản phẩm (hữu cơ, an toàn, chất lượng), thị trường (liên kết chuỗi, tiêu thụ nội địa hoặc xuất khẩu), lợi ích cho đối tượng nuôi (người dân hoặc doanh nghiệp) và chọn công nghệ thích hợp để phát triển./.

Theo TGAG

lich-cup-dien

Logo hội viên

BKAGICHAM-KIMCHIViettleAnGiangANTESCOAlphanamGroupVietGreenTourHTXDoanKetlogoagitech

GoldenCityAnGiangCaLinhKhoMialienhe-quangcao

Liên kết Website

untitled1CongThongTinDoanhNghiep

Capturehuba

kigibaMDECCucHaiQuanAnGiang

 

 

 

Góc doanh nghiệp

DoiThoaiTrucTuyentthcKienNghiDN3ttvtvttdn

Lượt truy cập

12373141
Hôm nay
Tất cả
24452
12373141