Get Adobe Flash player

2017

Ngành gỗ tìm cơ hội mở rộng thị trường châu Âu

Phát biểu tại hội thảo “Đẩy mạnh xuất khẩu đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ vào thị trường châu Âu” vừa được tổ chức tại TP.HCM, ông Nguyễn Chánh Phương, Tổng thư ký Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM nhận định, ngành gỗ Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu 20 tỷ USD doanh thu xuất khẩu trong khoảng 7-10 năm tới.

DN gỗ Việt Nam hiện còn rất yếu trong khâu thiết kế. Ảnh: N.Hiền.

Theo ông Phương, ngành gỗ đang có những điều kiện rất tốt về nguyên liệu, trình độ sản xuất, máy móc thiết bị cũng như các chính sách hỗ trợ của Nhà nước…, tạo lực đỡ vững chắc cho xuất khẩu. Trong đó, dù thị trường châu Âu mới chỉ chiếm trên 10% tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam, nhưng đây được xem là thị trường then chốt trong chiến lược phát triển lâu dài của ngành gỗ. Các chuyên gia dự báo, xuất khẩu gỗ và thủ công mỹ nghệ vào châu Âu được sẽ tăng trưởng khả quan trong thời gian tới nhờ các hoạt động xây dựng thị trường tại EU được đẩy mạnh, tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) dự kiến có hiệu lực từ năm 2018 và Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị rừng, thương mại gỗ và sản phẩm gỗ (VPA/FLEGT). Theo đó, sau gần 6 năm đàm phán, Việt Nam và EU đã ký tắt văn bản của VPA/FLEGT, đánh dấu sự hoàn tất chính thức các cuộc đàm phán. Hiệp định sẽ được Việt Nam và EU thông qua dựa trên văn bản đã ký tắt này.

VPA/FLEGT được xem là giấy thông hành để doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gỗ vào EU không phải giải trình về truy xuất gỗ hợp pháp khá phức tạp như trước đây. Qua đó giúp việc quản trị rừng bền vững và phát triển ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam được bền vững hơn. Theo số liệu của Bộ Công Thương, với kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam sang EU đạt 741,8 triệu USD trong năm 2016, châu Âu hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam sau Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc. Đây cũng là thị trường lớn của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, trong đó kim ngạch xuất khẩu mặt hàng mây tre lá vào thị trường này đạt 95,18 triệu USD và là thị trường lớn nhất, chiếm 35% trong tổng giá trị xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ vào thị trường này trong năm qua cũng ghi nhận sự tăng trưởng trên 4%, đạt 70,7 triệu USD.

Bà Jana Herceg, đại diện phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam cho biết, VPA/FLEGT sẽ mở ra các cơ hội kinh tế cho DN Việt Nam nhờ việc tiếp cận tốt hơn với thị trường EU thông qua cơ chế cấp phép FLEGT (kết hợp với các điều khoản FTA). Hiệp định này cũng thúc đẩy việc ban hành những quy định tốt hơn về tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ và gỗ nhập khẩu, thực thi luật hình sự và các tiêu chuẩn về môi trường, sức khoẻ, an toàn và lao động. Và trên hết, về lâu dài, VPA/FLEGT sẽ giúp cải thiện uy tín của lĩnh vực lâm nghiệp và công nghiệp gỗ Việt Nam trên trường quốc tế vốn là một yếu tố tạo động lực quan trọng.

Trong khi đó, với EVFTA, hầu hết các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và nội thất xuất khẩu từ Việt Nam sang châu Âu sẽ được hưởng mức thuế 0% khi hiệp định này đi vào hiệu lực. Ở chiều ngược lại, các mặt hàng nội thất và thủ công mỹ nghệ nhập khẩu từ EU vào Việt Nam cũng sẽ được hưởng mức thuế 0% từ EVFTA. Mức thuế này còn được áp dụng cho cả hệ thống máy móc, thiết bị chế biến gỗ nhập khẩu từ EU. Qua đó giúp các DN Việt Nam có cơ hội tiếp cận các thiết bị, máy móc chất lượng cao với mức giá thấp, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm.

Không chỉ có màu hồng

Dù có nhiều triển vọng, nhưng ông Phương cũng nhấn mạnh, con đường hướng đến con số 20 tỷ USD không chỉ có màu hồng, bởi các DN gỗ Việt Nam vẫn đang rất yếu trong các khâu thiết kế, dịch vụ thương mại và thương hiệu. Hiện 95% DN xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vẫn làm gia công, nên khâu thiết kế và thương hiệu chưa được chú trọng. Ngoài ra, khi làm gia công, DN cũng không nắm được xu hướng, thị hiếu của người tiêu dùng, từ đó hạn chế sự sáng tạo. Trong khi đó, dù thị phần xuất khẩu gỗ của Việt Nam vào EU đang có chiều hướng giảm trong những năm gần đây, nhưng giá trị xuất khẩu lại tăng. Điều này cho thấy người tiêu dùng châu Âu đang có xu hướng sử dụng các sản phẩm gỗ có giá trị cao.

Bà Trần Như Trang, đại diện tổ chức SIPPO (Thụy Sỹ) tại Việt Nam cũng cho hay, tại châu Âu có những DN sản xuất đồ nội thất có thể tạo ra các xu hướng về nguyên vật liệu cũng như thiết kế cho thị trường và dẫn dắt thị trường. Dù rất khó khăn, nhưng đây cũng là hình mẫu mà các DN Việt Nam nên hướng tới và học tập để có thể phát triển bền vững và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho sản phẩm đồ gỗ Việt Nam.

Bên cạnh đó, để tận dụng mức thuế suất ưu đãi của Hiệp định thương mại, các DN xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc xuất xứ gỗ nguyên liệu hợp pháp. Theo bà Bùi Thị Việt Anh, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, đây là một thách thức đối với các DN. Bởi tỷ lệ rừng được cấp chứng nhận FSC của Việt Nam hiện mới chỉ đạt khoảng 2-3%. Còn gỗ nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu đến từ các nước Lào, Campuchia, Trung Quốc, châu Phi… nên gặp rủi ro không nhỏ về nguồn gốc gỗ nguyên liệu hợp pháp. Các chuyên gia khuyến cáo DN xuất khẩu khi nhập khẩu gỗ hoặc mua từ nguồn nguyên liệu trong nước cần lưu giữ chứng từ không chỉ vài tháng mà từ vài năm, đồng thời khuyến khích DN nhập gỗ nguyên liệu từ các nguồn hợp pháp dù chi phí sẽ cao hơn.

Ông Nicolas Audier, Phó Chủ tịch EuroCharm cũng chỉ ra rằng, các DN Việt Nam sẽ phải đối mặt với rất nhiều đối thủ trên sân chơi toàn cầu, trong đó có cả các DN sản xuất đồ gỗ tại châu Âu. Thêm vào đó, những hiệp định thương mại giữa EU và các quốc gia khác cũng có thể sẽ được ký kết trong tương lai. 

Theo HQ Online

Cuộc đua giảm giá ôtô: Vì sao người tiêu dùng Việt vẫn thờ ơ?

Thị trường ôtô Việt Nam tiếp tục chứng kiến cuộc đua giảm giá chưa từng có của nhiều hãng xe, trong đó có những mẫu xe giảm giá đến cả trăm triệu nhưng khách hàng vẫn thờ ơ, chờ những đợt giảm giá tiếp mới quyết định mua xe. 

Sản xuất ôtô tại nhà máy ôtô Ford Hải Dương. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Tiếp tục cuộc đua giảm giá 

Có thể khẳng định, chưa có thời điểm nào thị trường ôtô lại vào cuộc đua giảm giá mạnh như thời gian gần đây. Từ hai tháng cuối năm 2016 đến nay, các thương hiệu xe sản xuất lắp ráp trong nước hay nhập khẩu đều thực hiện nhiều chương trình khuyến mãi, ưu đãi, giảm giá bán sản phẩm của mình. 

Trong cuộc đua giảm giá bán xe này phải kể đến Công ty cổ phần ôtô Trường Hải (Thaco) với ba thương hiệu xe là Mazda, Kia và Peugeot. Đây là doanh nghiệp tiên phong và cũng là doanh nghiệp có “thói quen” giảm giá bán xe hàng tháng, hàng quý, thậm chí là những ngày “vàng.”

Đáng chú ‎ý, trong những đợt giảm giá liên tiếp này, Thaco gây “sốc” thị trường khi giảm giá các sản phẩm mang thương hiệu Mazda từ vài chục triệu đồng tới gần 200 triệu đồng và chương trình này kéo dài từ cuối năm ngoái đến nay. 

Tại sự kiện ra mắt Mazda3 vào tháng 5 vừa qua, ông Bùi Kim Kha, Phó Tổng Giám đốc Thaco nhìn nhận, sau thời gian dài liên tục giảm giá, ngoài các chương trình giảm giá ưu đãi từ công ty, các showroom cũng thực hiện chương trình riêng khiến giá xe do Thaco phân phối đã "chạm đáy" và gần như không thể giảm thêm. Thế nhưng, bước sang đầu tháng 6, Thaco áp dụng chương trình ưu đãi từ 30 đến 40 triệu đồng cho mẫu xe Mazda CX-5, đồng thời nâng thời gian bảo hành của mẫu xe này từ 3 năm lên đến 5 năm hoặc 150.000km. 

Với mức giảm giá này, Mazda CX5 bản 2.0L hiện có giá thấp kỷ lục từ trên 1 tỷ đồng khi ra mắt còn từ 849 triệu đến 950 triệu đồng hiện nay. L‎ý giải việc bất ngờ giảm giá này, Thaco cho biết nhân dịp mẫu xe Mazda CX-5 cán mốc doanh số hơn 20.000 xe tại thị trường Việt Nam, Thaco tạo điều kiện tốt nhất cho nhiều khách hàng đang mong muốn sở hữu mẫu xe này.

Không chỉ ưu đãi cho khách mua Mazda hay Kia, ngày 14/6 Thaco lại tiếp tục tạo thêm “cú sốc” khi công bố giảm 75 triệu đồng đối với mẫu Peugeot 3008, giá hiện còn 995 triệu đồng, đồng thời tặng thêm một năm bảo hiểm vật chất để hút khách hàng. 

Với việc liên tiếp mạnh tay giảm giá bán xe theo từng tháng, từng quý của Thaco khiến nhiều hãng xe trong nước đứng ngồi không yên, đặc biệt là những mẫu xe cạnh tranh trực tiếp. Không trực tiếp giảm giá bán xe nhưng Honda Việt Nam lại hỗ trợ lệ phí trước bạ trị giá 50 triệu đồng cho khách hàng mua xe CR-V và Accord, đồng thời tặng thêm phụ kiện trang trí xe cho khách hàng. 

Trong tháng 6 này, Nissan Việt Nam cũng thực hiện chương ưu đãi từ 10 đến 20 triệu đồng và tặng bộ định vị AVN cùng bộ thảm sàn cho khách hàng mua xe X-Trail; ưu đãi từ 5 đến 30 triệu đồng hoặc tặng nắp thùng trị giá 30 triệu đồng cho khách mua mẫu Navara; ưu đãi 5 triệu đồng hoặc các phụ kiện cho Sunny XV (phiên bản số tự động – AT); ưu đãi từ 10 đến 20 triệu đồng cho mẫu Teana. 

Cũng trong tháng 6, GM Việt Nam ưu đãi giá đến 70 triệu đồng cho khách hàng mua mẫu Cruze bản LTZ và mẫu Colorado bản 2.8L 4x4 AT LTZ; 50 triệu đồng cho mẫu Cruze LT; 30 triệu đồng cho bản Colorado 4x4 MT LTZ; và ưu đãi 20 triệu đồng hai bản Colorado 2.5L 4x4 và 4x2 MT. 

Đáng chú ý‎, sau hai tháng liên tiếp vừa qua, Mitsubishi Việt Nam không thể bán nổi được một chiếc SUV 7 chỗ Pajero Sport hay Outlander Sport nào, bước sang tháng 6, hãng xe này đã mạnh tay giảm giá 50 và 106 triệu đồng cho hai mẫu Pajero Sport và giảm 90 triệu đồng cho mẫu Outlander; từ 0-60 triệu đồng cho Triton và giảm 50 triệu đồng đối với mẫu Mirage.

Trong cuộc chiến giảm giá ôtô trên thị trường hiện nay, Hyundai Thành Công (HTC) cũng không thể đứng ngoài cuộc và thực hiện chương trình ưu đãi với cả những mẫu bán chạy của mình là Santa Fe và Elantra trong tháng 6 này. Theo đó, HTC ưu đãi 50 đến 70 triệu đồng cho khách mua Santa Fe và 40 đến 50 triệu đồng cho khách hàng mua Elantra. 

Tiếp theo đó, từ 15/6, HTC cũng giảm giá bán mẫu xe Tucson 20 triệu đồng cùng bộ phụ kiện đi kèm trị giá 30 triệu đồng. Nếu không nhận phụ kiện, tổng mức ưu đãi lên tới 40 triệu đồng. Điều đáng nói, chỉ chưa đầy một tháng HTC thực hiện hai chương trình giảm giá, chưa kể chương trình tri ân khách hàng dịch vụ Hè 2017. Đây được coi là động thái khá lạ của doanh nghiệp tư nhân này đối với cả những mẫu xe bán chạy nhất của mình trên thị trường hiện nay. 

Khách hàng vẫn chờ giá giảm tiếp 

Quan sát thị trường ôtô những tháng gần đây cho thấy, từ đầu năm 2017 đến nay, chỉ có thuế suất thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc từ ASEAN về Việt Nam giảm 10%, còn lại các loại thuế, phí khác đối với xe sản xuất lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu ngoài khu vực không giảm. Thuế phí không giảm, nhưng giá bán xe giảm mạnh là do các doanh nghiệp tích cực cắt giảm tối đa chi phí và lợi nhuận, thậm chí chấp nhận lỗ ở mẫu xe nào đó để lôi kéo khách hàng, giành lại thị phần nhằm đón cơ hội mới từ năm 2018 khi thuế suất thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc từ khu vực còn 0%. 

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp như Thaco vừa đầu tư nhà máy sản xuất xe du lịch hay Hyundai Thành Công vừa k‎ý kết hợp tác đầu với tập đoàn mẹ trong xuất lắp ráp xe hướng tới xuất khẩu, các doanh nghiệp này cũng tích cực gia tăng doanh số bán hàng, tăng sản lượng sản xuất; đẩy mạnh sản xuất linh kiện phụ tùng nhằm gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm giá thành để hướng tới nhận chuyển giao công nghệ. 

Ông Trần Bá Dương, Chủ tịch Hội đồng quản trị Thaco chia sẻ, chiến lược giảm giá xe là để gia tăng sản lượng. Cụ thể, chiến lược của Thaco là lấy doanh số bù lợi nhuận trên mỗi xe, khi quy mô sản xuất càng tăng, Thaco càng có cơ sở giảm giá bán. 

Giá xe giảm, doanh số tăng lại thúc đẩy sản xuất tăng hơn nữa. Chiến lược này tạo thành vòng tròn khiến lượng xe sản xuất và bán hàng của Thaco tăng liên tục, đặc biệt là những mẫu xe có doanh số bán tốt để đạt doanh số tổng lực, chiếm lĩnh thị phần và chuyển giao công nghệ, hướng tới xuất khẩu ngược trong khu vực. 

Tuy nhiên, giới kinh doanh xe cho rằng, việc hàng loạt thương hiệu ôtô đua nhau tung chiêu khuyến mãi để kích cầu không phải bây giờ mới thực hiện mà đã thực hiện từ hai tháng cuối năm 2016 đến nay. Mặc dù vậy, nhiều tháng qua tổng doanh số bán hàng toàn thị trường ôtô vẫn ảm đạm, bước sang tháng 5 doanh nghiệp mạnh tay giảm giá bán xe hơn nữa đã giúp giá xe giảm đáng kể, người tiêu dùng có thêm cơ hội mua xe giá rẻ theo chương trình này vài chục triệu đến gần 200 triệu đồng như của Thaco. Qua đó, tổng doanh số bán ôtô trên toàn thị trường trong tháng 5 đã bắt đầu khởi sắc. 

Qua số liệu do Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam vừa công bố cũng cho thấy, việc các doanh nghiệp tích cực tung chiêu kích cầu, doanh số bán hàng của toàn thị trường ôtô Việt Nam trong tháng 5/2017 đạt 23.232 xe, tăng 6% so với tháng 4 và tăng 11% so với cùng kỳ năm 2016. Tuy nhiên, tính chung 5 tháng đầu năm, doanh số toàn thị trường ôtô Việt Nam chỉ đạt 109.903 xe, giảm 1% so với cùng kỳ năm ngoái. 

Giới chuyên doanh cho hay, việc các doanh nghiệp liên tiếp thực hiện các chương trình giảm giá người tiêu dùng ít nhiều cũng được hưởng lợi. Tuy nhiên, chính việc này sẽ tạo thêm cho người tiêu dùng càng có tâm l‎ý chờ đợi xem giá xe có giảm tiếp mới quyết định mua, hay chờ đợi đến đầu năm 2018 mua xe với giá rẻ khiến thị trường xe ôtô tăng trưởng không như kỳ vọng, đặc biệt là từ nửa cuối năm nay. Đây có thể là một trong những nguyên nhân khiến thị trường ôtô Việt Nam trong tháng qua dù có tăng trưởng nhưng vẫn chưa đạt được kỳ vọng của nhà sản xuất phân phối…/.

Theo Vietnam+

Trên 9.500 tấn vải thiều đã được XK sang Trung Quốc

Theo báo cáo của Sở Công Thương tỉnh Bắc Giang, tính đến nay, toàn tỉnh đã tiêu thụ được khoảng trên 22.000 tấn vải thiều. Trong đó Tân Yên trên 12.000 tấn, Lục Nam là 2.000 tấn, Lục Ngạn là 5.500 tấn, Yên Thế là 800 tấn... Tình hình tiêu thụ vải thiều tương đối thuận lợi, người dân khu vực bán được giá cao. Mức giá dao động từ 15.000 - 45.000 đồng/kg tùy từng loại vải, thời điểm và địa bàn.

Trung Quốc tiếp tục được xác định là thị trường truyền thống, quan trọng của vải thiều xuất khẩu Bắc Giang
 Ảnh: Quang Tấn.

Vải thiều Bắc Giang được tiêu thụ ở cả thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Trong đó, thị trường nội địa chủ yếu tập trung ở các tỉnh: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội và TP.HCM với sản lượng đạt khoảng trên 15.000 tấn. Vải xuất khẩu chủ yếu tại thị trường Trung Quốc qua cửa khẩu Lạng Sơn, Lào Cai với sản lượng đến nay đạt trên 9.500 tấn.

Năm 2017, Trung Quốc tiếp tục được xác định là thị trường XK truyền thống, quan trọng của vải thiều Bắc Giang. Dự kiến tổng sản lượng vải thiều xuất khẩu khoảng 50.000 tấn, trong đó xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc khoảng 40.000 tấn, chiếm 80%.

Đáng chú ý, năm 2017, lần đầu tiên quả vải Việt Nam sẽ được xuất khẩu sang 3 thị trường mới là Trung Đông, Canada và Thái Lan. 

Dự kiến ngày 20/6, container vải thiều Lục Ngạn đầu tiên sẽ được xuất khẩu sang Thái Lan, mở ra cơ hội lớn hơn cho trái vải thiều Việt Nam tiếp cận được thị trường tiềm năng khi thị trường thuế quan đã được gỡ bỏ.

Được biết, trong năm 2017, sản lượng vải thiều của tỉnh ước tính sẽ đạt khoảng 100.000 tấn, bằng 70% so với năm trước. Trong đó, sản lượng vải thiều VietGap đạt khoảng 40.000 tấn, vải GlobalGap đạt 1.600 tấn. 

Theo HQ Online

Chăn nuôi gặp khó, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi vẫn tăng

Mặc dù tình hình chăn nuôi trên cả nước, nhất là chăn nuôi lợn và gia cầm gặp nhiều khó khăn do giá xuống thấp kỉ lục, trong lúc vẫn chưa tìm được đầu ra cho sản phẩm chăn nuôi theo hướng xuất khẩu bền vững, Cục Chăn nuôi đã tham mưu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các địa phương ngừng cấp phép xây dựng mới các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, trong 5 tháng đầu năm, tình hình nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu vẫn có chiều hướng tăng.

Tổng giá trị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu 5 tháng đầu năm 2017 đạt 1,53 tỷ USD. Ảnh: ST.

Tăng do đâu?

Theo ước tính của Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tính đến hết tháng 5/2017, cuộc khủng hoảng giá heo đã gây thiệt hại khoảng 10.000 tỷ đồng. Các chuyên gia nhận định, trong sự việc này, bên trực tiếp gánh chịu thiệt hại chính là người chăn nuôi, trong đó nặng nhất là các trang trại và doanh nghiệp chăn nuôi do phát triển theo chuỗi hoặc gắn với nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi.

Mặc dù đã có những tin vui về triển vọng mở cửa cho thị trường xuất khẩu thịt heo theo đường chính ngạch trong thời gian tới, nhưng hiện giá heo hơi trong nước vẫn đang ở mức thấp 24.000-25.000 đồng/kg, người chăn nuôi đang thua lỗ nặng nề. Tuy ngành chăn nuôi đang gặp khó khăn song sản xuất thức ăn chăn nuôi lại đang có sự tăng trưởng “nóng”. Theo thống kê của Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện tại, nước ta có 218 cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, với tổng công suất thiết kế trên 31 triệu tấn, cao hơn nhu cầu thức ăn chăn nuôi công nghiệp năm 2020 (25 triệu tấn). Sản lượng thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm công nghiệp năm 2016 đạt 20,15 triệu tấn, tăng 27,3% so với năm 2015 (15,8 triệu tấn). Hiện năng lực sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước đang vượt quá sức tiêu thụ của thị trường, có nguy cơ cảnh báo trong thời gian tới cần phải xuất khẩu hoặc có biện pháp để giảm tốc độ của các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Mặc dù chăn nuôi lợn, gia cầm là hai mảng chiếm tỷ trọng lớn nhất của ngành chăn nuôi Việt Nam đang gặp khó khăn, phải giảm đàn, thị trường thức ăn chăn nuôi có sự tăng trưởng nóng, thừa về cung nhưng lượng thức ăn gia súc và nguyên liệu nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm nay vẫn tăng mạnh. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ước giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 5/2017 đạt 344 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này 5 tháng đầu năm 2017 lên 1,53 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này là Argentina (chiếm 44,7% thị phần), tiếp đến là Mỹ (13%), Ấn Độ (5%) và Trung Quốc (4,2%). Thị trường có tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Italia (tăng gần 9 lần), tiếp đến là thị trường Ấn Độ (tăng hơn 2 lần).

Cụ thể, khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 5/2017 đạt 184.000 tấn với giá trị 77 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 5 tháng đầu năm 2017 đạt 643.000 tấn và 280 triệu USD, tăng 8,4% về khối lượng và tăng 18,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Đối với sản phẩm ngô, khối lượng nhập khẩu ngô 5 tháng đầu năm 2017 đạt 3,05 triệu tấn với giá trị đạt 625 triệu USD, tăng 1,5% về khối lượng và tăng 6,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 28,6% và 20,3% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Đặc biệt, trong 4 tháng đầu năm 2017, khối lượng nhập khẩu ngô từ thị trường Thái Lan tăng hơn 48 lần so với cùng kỳ năm 2016 nhưng giá trị lại chỉ tăng có hơn 4,5 lần.

Vì đâu lại có nghịch lý này, theo các chuyên gia, nguyên nhân là do giá thức ăn chăn nuôi, ngô và đậu tương của các tương của các thị trường chính như Mỹ, Argentina, Ấn Độ… đang ở mức khá thấp mà nguyên liệu trong nước khó có thể cạnh tranh nổi.

Không quá bất ngờ

Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan về nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập khẩu thức ăn chăn nuôi tăng cao trong thời gian qua, ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam cho rằng, việc thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu nhập khẩu về Việt Nam trong 5 tháng đầu năm nay tăng mạnh không có nhiều bất ngờ.

“Thời gian qua giá các loại nguyên liệu như bắp, đậu nành đều giảm do được mùa và Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu các mặt hàng trên vào nước này. Do giá thấp, các doanh nghiệp tranh thủ nhập hàng giá rẻ để trữ trong kho. Các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi cho rằng, đằng nào người dân vẫn phải chăn nuôi nên các doanh nghiệp mạnh dạn trữ hàng. Với sản lượng nguyên liệu trong nước ngày càng thiếu hụt so với nhu cầu, việc tăng nhập khẩu là đương nhiên” - ông Lê Bá Lịch cho biết.

Dù Việt Nam đã có nhiều chính sách khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhằm đa dạng hóa nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhưng do đặc điểm đất đai, khí hậu của Việt Nam, đặc biệt là do hạ tầng vẫn chưa được giải tỏa, đồng bộ cơ giới hóa nên giá thành của nguyên liệu thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam vẫn còn khá cao. Được biết, hiện giá bắp nhập từ Mỹ, Argentina về đến cảng của Việt Nam đang được chào bán với giá 4.700 đồng/kg, luôn thấp hơn giá bắp trồng trong nước. Giá bã đậu nành về cũng chưa tới 10.000 đồng/kg. Với giá như trên, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước khó lòng cạnh tranh được với hàng nhập khẩu.

Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện Việt Nam có 5 doanh nghiệp hàng đầu về sản xuất thức ăn chăn nuôi là Dabaco, Masan, GreenFeed, Vina, Lái Thiêu chiếm 23% thị phần; 5 doanh nghiệp FDI lớn nhất là CP, Deheus, ANT, Jafa comfeed, Cargill chiếm 37% thị phần. Một số doanh nghiệp FDI để tối đa lợi nhuận, họ đã không ưu tiên nguồn nguyên liệu ở Việt Nam mà nhập khẩu nguyên liệu rẻ hơn từ các nước khác. Vì vậy, theo ước tính, hiện nước ta thường xuyên phải nhập khẩu 50% trên tổng sản lượng ngô phục vụ ngành chăn nuôi, khô dầu gần như 100% và các nguyên liệu phụ gia như premix, vitamin, axit amin, các chất phụ gia màu, mùi sử dụng trong chế biến thức ăn chăn nuôi chúng ta phải nhập gần như 100%. Thị trường nhập khẩu các mặt hàng này chủ yếu từ Trung Quốc, các nước châu Âu và Nhật Bản. 

Theo ông Lê Bá Lịch, nếu tập trung vào sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như đậu nành, ngô để phục vụ ngành chăn nuôi, giảm bớt nhập khẩu từ nước ngoài sẽ là không phù hợp. Bởi Việt Nam là nước nông nghiệp nhưng ở trình độ sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu. Trong khi đó các quốc gia khác đã công nghiệp hóa nông nghiệp nên họ cho ra sản lượng lớn, giá thành thấp, Việt Nam sẽ khó cạnh tranh được. Vì vậy, thay vì nghĩ sản xuất nhiều ngô với đậu nành để phục vụ ngành chăn nuôi, ngành nông nghiệp Việt Nam nên tập trung sản xuất những sản phẩm có lợi thế đáp ứng nhu cầu trong nước, xuất khẩu rồi nhập khẩu thức ăn chăn nuôi.

Theo HQ Online

Australia nới lỏng nhập khẩu tôm

Theo thông tin từ Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, kể từ ngày 15/6/2017, Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia chấp nhận các đơn xin phép nhập khẩu đối với mặt hàng tôm chưa nấu chín được đánh bắt tự nhiên ở Australia xuất khẩu sang Việt Nam để chế biến sau đó tái nhập lại Australia.

Chế biến tôm xuất khẩu

Trước đó, Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia đưa ra thông báo về việc Bộ này đã nhận được văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam, đó là Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam về việc có thể đáp ứng được các điều kiện nhập khẩu được đưa ra trong giấy chứng nhận kiểm dịch mới.

Theo đó, kể từ ngày 15/6/2017, Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia chấp nhận các đơn xin phép nhập khẩu đối với mặt hàng tôm chưa nấu chín được đánh bắt tự nhiên ở Australia rồi xuất khẩu sang Việt Nam để chế biến sau đó tái nhập lại Australia.

Hệ thống cơ sở dữ liệu về các điều kiện an toàn sinh học nhập khẩu (BICON) đã được Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia cập nhật các yêu cầu mới này.

Các đơn xin phép nhập khẩu đối với mặt hàng tôm chưa nấu chín được đánh bắt tự nhiên ở Australia rồi được chế biến ở các quốc gia khác không phải Việt Nam sẽ chỉ được chấp nhận khi cơ quan có thẩm quyền tại các quốc gia đó đảm bảo rằng họ có thể đáp ứng được các điều kiện nhập khẩu mới của Australia. 

Mới gần đây, ngày 29/5/2017, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia đã gửi thư cho Cục Thú y Việt Nam thông báo về việc Chính phủ Australia quyết định nới lỏng Lệnh tạm dừng NK tôm lần thứ 4. Phía Australia sẽ bắt đầu chấp nhận các đơn đặt hàng NK đối với tôm tẩm ướp và thịt tôm tẩm ướp chưa qua nấu chín từ ngày 12/7/2017 với điều kiện đáp ứng nghiêm ngặt các qui định của Australia. 

Như vậy, sau khi ban hành lệnh cấm NK tôm từ 9/1/2017, đến nay Australia đã 5 lần thông báo nới lỏng lệnh cấm, chính phủ nước này đã loại trừ 08 sản phẩm tôm ra khỏi lệnh tạm dừng NK trong đó thông báo mới nhất là cho phép tôm xuất xứ Australia chế biến ở Việt Nam được phép tái nhập vào thị trường Australia.

Được biết, dù không phải là thị trường NK tôm lớn nhưng Australia là thị trường tiềm năng của Việt Nam bởi thị trường này đang có sức hấp dẫn với DN khi nhu cầu tiêu thụ tôm tăng dần. Tuy nhiên, Australia được coi là một thị trường khó tính với các quy định NK khắt khe nên các DN phải thường xuyên đối mặt với các rào cản kỹ thuật khi XK sang thị trường này.

Từ 2007-2011, XK tôm Việt Nam sang Australia dao động từ 60 - 86 triệu USD. Sau 2011, XK tôm sang thị trường này luôn đạt trên 100 triệu USD, đặc biệt năm 2014 đạt giá trị cao nhất trên 151 triệu USD. Năm 2015 và 2016, XK sang thị trường này giảm trên 20% so với mức đỉnh năm 2014 do Australia ngày càng tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật đối với tôm NK vào nước này.

Australia là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ 7 của Việt Nam, chiếm 3,6% tổng XK tôm của Việt Nam đi các thị trường. Năm 2016, XK tôm sang Australia đạt 114,6 triệu USD; tăng 1,4% so với năm 2015. Bốn tháng đầu năm 2017, XK tôm sang thị trường này đạt 28,7 triệu USD; tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong cơ cấu các sản phẩm tôm XK sang Australia, tôm chế biến chiếm 78% tổng XK tôm của Việt Nam sang thị trường này. Trong 5 năm qua, Việt Nam luôn là nước cung cấp tôm chế biến lớn nhất cho Australia.

Theo HQ Online

lich-cup-dien

GoldenCityAnGianglienhe-quangcaolienhe-quangcao

Liên kết Website

Góc doanh nghiệp

DoiThoaiTrucTuyentthcKienNghiDN3ttvtvttdn

Lượt truy cập

5266322
Hôm nay
Tất cả
51
5266322