Get Adobe Flash player

2017

Triển khai nghị quyết 35: Doanh nghiệp mong rốt ráo giải quyết tồn tại

Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020 đã đi được hơn một năm với những triển khai tích cực. Nghị quyết đã đặt ra những nhiệm vụ hết sức cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế, do đó Chỉ thị 26/CT-TTg của Thủ tướng về việc tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết 35 được các DN kỳ vọng sẽ giải quyết được rốt ráo những tồn tại này.

Chỉ thị giúp tăng niềm tin và kỳ vọng vào sự đồng hành của Chính phủ với sự phát triển của DN. Ảnh: H.Dịu.

Thêm kỳ vọng

Chỉ thị của Thủ tướng đã thẳng thắn vạch ra những hạn chế còn tồn tại sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 35 như: Một số cơ chế, chính sách đang áp dụng chưa phù hợp; việc triển khai thực hiện một số giải pháp chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; còn có khoảng cách giữa chính sách và thực thi ở nhiều lĩnh vực nổi cộm như thủ tục hành chính trong XNK, giấy phép con, tiếp cận đất đai, vốn, tài nguyên, công tác thanh tra kiểm tra DN còn chồng chéo...; sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương chưa thống nhất, chặt chẽ trong việc hướng dẫn DN.

Nói cụ thể về những vướng mắc còn tồn tại của DN, theo bà Nguyễn Thị Mai Thanh, Chủ tịch HĐQT của Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh (REE), các văn bản pháp luật của Việt Nam chưa rõ ràng nên dẫn đến tình trạng mỗi đối tượng lại hiểu khác nhau, khiến thủ tục hành chính rơi vào khó khăn. Hơn nữa, các cơ quan nhà nước vẫn còn tồn tại cơ chế xin – cho , chưa tạo thuận lợi cho DN khiến DN gặp khó khăn. “Khâu xin quy hoạch xây dựng cần quy định rõ ràng về mật độ, chiều cao và DN chỉ cần tự động đăng ký xây dựng. Tuy nhiên hiện tại vẫn có quá nhiều khâu thủ tục khiến cho DN mất thời gian. REE có dự án xây một tòa nhà và chính quyền thành phố yêu cầu giải trình về vấn đề giao thông vì những năm qua giao thông của thành phố khá căng thẳng. Chỉ giải trình vấn đề này đã mất 7 tháng, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình triển khai dự án”, bà Thanh cho hay.

Đặc biệt, sau khi tiếp thu các ý kiến của DN về vấn đề chi phí đầu vào ở mức cao, Chỉ thị của Thủ tướng đã nhấn mạnh đến việc giảm chi phí này bằng cách yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phải rà soát các loại chi phí để xem xét giảm. Ông Nguyễn Thành Long, Giám đốc Công ty TNHH Phát triển Dịch vụ Cát Lợi cho rằng, với DN, chi phí đầu vào giảm được một đồng cũng quý, số tiền tiết kiệm được sẽ được tái đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao giá trị sản phẩm và DN sẽ quay trở lại đóng góp cho ngân sách nhà nước nhiều hơn.

Chỉ thị được ra đời ngay sau cuộc đối thoại giữa Thủ tướng với DN, nhiều ý kiến được đưa ra với sự cam kết sẽ có giải pháp thấu đáo, cụ thể. Chính vì thế, các DN đánh giá Chỉ thị đã hiện thực hóa những cam kết này, giúp DN tăng niềm tin và kỳ vọng vào sự đồng hành của Chính phủ với sự phát triển của DN. Những chỉ đạo như sửa đổi quy định về quản lý thuế, hải quan theo hướng liên thông giữa các bộ, cơ quan liên quan để giảm thiểu tối đa thời gian và chi phí thực hiện cho DN; đổi mới phương thức kiểm tra chuyên ngành theo nguyên tắc quản lý rủi ro, đẩy mạnh việc công nhận kết quả kiểm tra theo thỏa thuận… được các DN đánh giá cao, bởi hiện nay, các thủ tục liên quan đến XNK còn vướng mắc ở nhiều khâu, do thiếu sự phối kết hợp giữa các bộ, ngành, một mặt hàng phải gánh sự kiểm tra của nhiều cơ quan… khiến DN hết sức khó khăn trong hoạt động giao thương. Hơn nữa, cũng chính từ những khó khăn này đã nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực như “đút lót”, gian lận thương mại…

Cần thời gian

Nhìn chung, các DN đều cho rằng, nếu các cấp, ngành làm tốt những yêu cầu như Chỉ thị nêu thì chắc chắn trong thời gian tới, kinh tế Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ hơn, các DN yên tâm sản xuất hơn. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, sự thay đổi nào cũng cần phải có lộ trình và thời gian. “Chúng ta đã ban hành rất nhiều luật lệ, nghị định, thông tư. Ví dụ, với phí và lệ phí, tỉnh cũng có, trung ương cũng có, các bộ ngành cũng được ban hành. Vậy, những loại văn bản này sẽ phải sửa chữa như thế nào? Vấn đề này cần thời gian và quyết tâm xuyên suốt từ người đứng đầu đến người thừa hành”, ông Quyền nói.

Bên cạnh đó, “căn bệnh” cố hữu trong điều hành, quản lý tại nước ta là “trên bảo, dưới không nghe”, hoặc chỉ thực hiện theo kiểu phong trào, hô hào thì làm, hết hô hào lại trở về như cũ. Điều này khiến không ít DN lo ngại về hiệu quả của Chỉ thị. Nhưng ông Nguyễn Thành Long cho rằng, hơn 1 năm nay, Chính phủ đã cho thấy sự quyết tâm cải cách môi trường kinh doanh để tạo thuận lợi cho DN, nhiều phản ánh đã được xử lý nghiêm khắc, nhanh chóng. Đặc biệt, Chỉ thị đã nhấn mạnh đến việc tăng cường trách nhiệm, kịp thời xử lý nghiêm cơ quan, đơn vị để xảy ra tình trạng thiếu trách nhiệm, chậm trễ, gây phiền hà trong giải quyết thủ tục hành chính để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và DN.

Có thể thấy, Chỉ thị 26 của Thủ tướng đã đặt ra nhiều nhiệm vụ dựa trên việc ghi nhận vướng mắc của DN trong thời gian qua. Nhưng để thực hiện được hết những vấn đề này không thể trong ngày một, ngày hai. Chưa kể trong hoạt động của DN, sẽ còn nhiều vướng mắc mới phát sinh, nên đây phải là một quá trình, khó có thể đi tới kết quả toàn diện. Vì thế, kiến nghị, vướng mắc của DN vẫn liên tục được tiếp nhận, định kỳ hàng tháng, hàng quý báo cáo Chính phủ với tinh thần công khai, nhiệt tình, minh bạch. Đây sẽ là động lực lớn nhất để các DN lạc quan hơn vào môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Theo HQ Online

Sửa đổi quy định liên quan đến cải cách TTHC

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều có liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại một số Nghị quyết của Chính phủ.

Nghị quyết trên sửa đổi, bổ sung một số điều có liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, một cửa liên thông được quy định tại Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 13/6/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử, Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 và Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017.

Theo đó, Bộ Nội vụ là cơ quan thường trực tổ chức triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020; chủ trì triển khai các nội dung cải cách tổ chức bộ máy hành chính (trừ nội dung “thực hiện thống nhất và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tập trung tại bộ phận tiếp nhận, trả kết quả thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện”), cải cách công chức, công vụ và cải cách chính sách tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức; phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cải cách chính sách tiền lương cho lực lượng vũ trang nhân dân; chủ trì việc xây dựng và hướng dẫn thực hiện phương pháp đo lường mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với dịch vụ hành chính do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện...

Bộ Tư pháp có nhiệm vụ theo dõi, tổng hợp việc triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách thể chế; chủ trì triển khai nhiệm vụ đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật...

Văn phòng Chính phủ chủ trì triển khai nội dung cải cách thủ tục hành chính; nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính tại các cơ quan hành chính nhà nước; chủ trì xây dựng và hướng dẫn thực hiện phương pháp tính chi phí thực hiện thủ tục hành chính; chủ trì việc hợp tác với các tổ chức quốc tế trong việc cải cách quy định hành chính; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, vận hành Mạng thông tin hành chính điện tử của Chính phủ trên Internet.

Đối với Nghị quyết số 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử, ngoài những nhiệm vụ tại khoản 2 Mục IV, Văn phòng Chính phủ còn có nhiệm vụ tiếp nhận xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính và tình hình, kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại các cấp chính quyền; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, bảo đảm kết nối liên thông với Cổng dịch vụ công Quốc gia; đẩy mạnh triển khai thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước.

Còn Bộ Tư pháp có nhiệm vụ ban hành quy định pháp lý về chứng từ, hồ sơ điện tử thay thế chứng từ, hồ sơ giấy; xây dựng hệ thống và hướng dẫn thực hiện qua mạng điện tử trên toàn quốc đối với việc: cấp lý lịch tư pháp, thực hiện xong trước ngày 1/1/2016; đăng ký giao dịch bảo đảm về động sản (trừ tàu bay, tàu biển) và các dịch vụ công trong lĩnh vực quốc tịch, thực hiện xong trước ngày 1/1/2017; triển khai, nâng cấp và hoàn thiện các hệ thống thông tin về quản lý hộ tịch; văn bản quy phạm pháp luật thống nhất từ Trung ương đến địa phương; đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử bảo đảm thiết lập cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc; thực hiện khai sinh, khai tử qua mạng điện tử.

Tại Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP, Văn phòng Chính phủ có nhiệm vụ đẩy mạnh triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước; mở diễn đàn tiếp nhận phản biện chính sách của doanh nghiệp và người dân tại Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức Đoàn kiểm tra, giám sát của Chính phủ và tổng hợp báo cáo Chính phủ tại các phiên họp thường kỳ tháng cuối quý. Kết quả thực hiện Nghị quyết được đưa vào đánh giá chất lượng hoạt động của từng Bộ, cơ quan, địa phương tại phiên họp thường kỳ tháng 12 hàng năm của Chính phủ.

Theo Chinhphu.vn

Hải quan kiến nghị giảm thủ tục kiểm tra chuyên ngành hàng NK tại chỗ

Doanh nghiệp chế xuất nếu mua hàng hóa là thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện từ nội địa nếu phải áp dụng chính sách mặt hàng sẽ dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp. Chính vì vậy, Tổng cục Hải quan đã kiến nghị Bộ Thông tin và Truyền thông giảm bớt chính sách quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa NK tại chỗ.

Công chức chi cục Hải quan KCX Long Bình hướng dẫn thủ tục hải quan cho DN. Nguyễn Hiền

Theo Tổng cục Hải quan, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 16 và Điều 86 Thông tư số 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính thì doanh nghiệp chế xuất mua thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện từ nội địa phải thực hiện thủ tục NK tại chỗ và áp dụng chính sách mặt hàng theo quy định.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật thuế XK, thuế NK; khoản 5 Điều 1 Nghị định 114/2015/NĐ-CP của Chính phủ; khoản 3 Điều 75 Thông tư 38/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính thì quan hệ trao đổi hàng hóa giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp chế xuất là quan hệ XNK. Vì vậy, khi doanh nghiệp chế xuất mua hàng hóa là thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện từ nội địa nếu phải áp dụng chính sách mặt hàng sẽ dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp.

Theo quan điểm của Tổng cục Hải quan, về bản chất từ trước hàng hóa đã được NK từ nước ngoài vào, khi làm thủ tục NK tại chỗ hàng hóa không được đưa ra, đưa vào, chỉ di chuyển trong lãnh thổ Việt Nam. 

Như vậy, thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện khi mua bán giữa nội địa và doanh nghiệp chế xuất nếu áp dụng chính sách mặt hàng thì phải có giấy phép NK và phai thực hiện kiểm tra chất lượng hai lần (lần thức nhất là trước khi NK vào Việt Nam và lần thứ hai là khi làm thủ tục NK tại chỗ). 

Do vậy, Tổng cục Hải quan kiến nghị Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ áp dụng chính sách quản lý hàng hóa XK, NK và chính sách mặt hàng đối với thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện được NK lần đầu từ nước ngoài vào Việt Nam. 

Đối với NK tại chỗ thì không phải thực hiện theo quy định tại Thông tư 18/2014/TT-BTTTT và Thông tư 30/2011/TT-BTTTT.

Tổng cục Hải quan kiến nghị Bộ Thông tin và Truyền thông sớm có phản hồi kiến nghị để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và hải quan địa phương.

Theo HQ Online

Kiên quyết thu hồi biển số 80A, 80B đã cấp cho doanh nghiệp

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ thông báo về việc xử lý xe ô tô do doanh nghiệp biếu, tặng và thu hồi biển số xe 80 cấp cho doanh nghiệp.

Ảnh minh họa: Internet

Cụ thể, các bộ, ngành và địa phương khẩn trương thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp nhận, sử dụng xe ô tô do doanh nghiệp biếu, tặng tại thông báo số 127/TB-VPCP ngày 10/3/2017 và công văn số 2718/VPCP-KTTH ngày 22/3/2017 của Văn phòng Chính phủ.

Bộ Công an tiếp tục thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 2699/VPCP-NC ngày 22/3/2017 của Văn phòng Chính phủ. Kiên quyết thu hồi biển số 80A, 80B của 516 xe đã cấp cho các doanh nghiệp, tổng hợp báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/6/2017.

Bộ Tài chính rà soát, tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình thực tế việc tiếp nhận, xử lý xe ô tô do doanh nghiệp biếu, tặng của các Bộ, ngành và địa phương; đề xuất phương án xử lý trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 6/2017.

Theo HQ Online

Việc miễn thuế đối với hàng hóa NK để sản xuất XK dễ bị lợi dụng để gian lận, trốn thuế

Việc miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu có nguy cơ dễ bị lợi dụng để gian lận, trốn thuế, vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung quy định liên quan là hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý.

Công chức Chi cục Hải quan Khu công nghiệp Bắc Thăng Long kiểm tra hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Ảnh: HỮU LINH.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 16 Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu số  107/2016/QH13 ngày 6/4/2016 thì “7. Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu” thuộc đối tượng được miễn thuế nhập khẩu. Cơ sở để xác định hàng hóa được miễn thuế theo quy định nói trên được quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định 134/2016/NĐ-CP, cụ thể gồm các điều kiện sau:

a) Tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa xuất khẩu có cơ sở sản xuất hàng hóa xuất khẩu trên lãnh thổ Việt Nam; có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với máy móc, thiết bị tại cơ sở sản xuất phù hợp với nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu và thực hiện thông báo cơ sở sản xuất theo quy định của pháp luật về hải quan;

b) Nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu được sử dụng để sản xuất sản phẩm đã xuất khẩu.

Trị giá hoặc lượng nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu được miễn thuế là trị giá hoặc lượng nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu thực tế được sử dụng để sản xuất sản phẩm thực tế xuất khẩu, được xác định khi quyết toán việc quản lý, sử dụng nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất sản phẩm xuất khẩu theo quy định của pháp luật về hải quan.

Khi quyết toán, người nộp thuế có trách nhiệm kê khai chính xác, trung thực trị giá hoặc lượng nguyên liệu, vật tư, linh kiện xuất khẩu thực tế sử dụng để sản xuất sản phẩm gia công thực tế nhập khẩu đã được miễn thuế khi làm thủ tục hải quan.”

Việc kiểm tra cơ sở sản xuất để xác định hàng hóa miễn thuế tạm thời được thực hiện theo quy định tại Điều 57 Thông tư 38/2015/TT-BTC cho đến khi có Thông tư hướng dẫn thay thế (do Thông tư 38/2015/TT-BTC ban hành trước Nghị định 134/2016/NĐ-CP, mà Nghị định 134/2016/NĐ-CP lại chưa có Thông tư hướng dẫn), việc kiểm tra này theo các quy định hiện hành thì cơ quan Hải quan không nhất thiết phải thực hiện kiểm tra trước khi đăng ký tờ khai nhập khẩu. Tuy nhiên với điều kiện miễn thuế được quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định 134/2016/NĐ-CP nói trên thì gần như doanh nghiệp có cơ sở sản xuất và doanh nghiệp nhập khẩu khai loại hình sản xuất xuất khẩu sẽ được miễn thuế nhập khẩu, không thu thuế GTGT khi đăng ký tờ khai nhập khẩu”.

Với các quy định về điều kiện miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu như trên khi thực hiện sẽ có những tồn tại sau đây mà doanh nghiệp có thể lợi dụng để gian lận, không phải nộp thuế đầu vào, thậm chí doanh nghiệp có thể tiêu thụ nội địa rồi bỏ trốn:

Thứ nhất: Do không ràng buộc trách nhiệm kiểm tra cơ sở sản xuất trước khi đăng ký tờ khai nhập khẩu theo loại hình sản xuất xuất khẩu để miễn thuế (doanh nghiệp chỉ cần thông báo cơ sở sản xuất trước là được) sẽ dẫn đến nếu doanh nghiệp cố tình lợi dụng (chưa nói đến việc ngầm thông đồng) để khai báo gian dối để được miễn thuế rồi bỏ trốn hoặc chây ì trong việc nộp thuế nếu bị cơ quan Hải quan ấn định thuế, xử lý sau đó.

Thứ hai: Doanh nghiệp vẫn có cơ sở sản xuất đáp ứng điều kiện về năng lực sản xuất như quy định, khi cơ quan Hải quan kiểm tra thì hoàn toàn đảm bảo nhưng thực tế chỉ dùng để sản xuất và tiêu thụ nội địa mà hoàn toàn không dùng cho xuất khẩu nên để kéo dài trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu và thuế GTGT đầu vào mà doanh nghiệp vẫn cố ý khai loại hình nhập khẩu sản xuất hàng xuất khẩu để miễn thuế, đến khi tiêu thụ nội địa thì thực hiện kê khai nộp thuế bằng tờ khai thay đổi mục đích sử dụng theo Điều 21 Thông tư 38/2015/TT-BTC mà không hề bị vi phạm nào. Vì quy định hiện nay không yêu cầu doanh nghiệp phải có hợp đồng sản xuất xuất khẩu trước mới được miễn thuế khi nhập khẩu nên doanh nghiệp rất dễ lợi dụng để gian lận.

Thứ ba: Do quy định về điều kiện miễn thuế hàng xuất sản xuất khẩu không bị giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp là nhập khẩu nguyên liệu, vật tư về trong khoảng thời gian bao lâu phải sản xuất, xuất khẩu sản phẩm (trước đây giới hạn thời gian ân hạn là 275 ngày hoặc tối đa không quá chu kỳ sản xuất sản phẩm nếu chu kỳ sản xuất sản phẩm dài hơn 275 ngày, nếu quá thời gian này thì doanh nghiệp phải kê khai nộp thuế, khi xuất khẩu sẽ hoàn thuế) nên doanh nghiệp có thể nhập khẩu miễn thuế rồi vì nhiều lý do khác nhau mà doanh nghiệp không sản xuất, không xuất khẩu, liên tục chuyển tồn, kéo dài từ năm này sang năm khác mà cơ quan Hải quan không thể ấn định, thu thuế. Ở đây là đang nói đến vấn đề doanh nghiệp không có ý gian lận, không chuyển tiêu thụ nội địa mà chỉ để tồn nguyên liệu, vật tư, không xuất khẩu sản phẩm. Trường hợp doanh nghiệp cố ý lợi dụng để gian lận thì sẽ phức tạp hơn rất nhiều.

Qua phân tích trên đây có thể thấy việc quản lý đối với loại hình hàng hóa là vật tư, nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế theo khoản 7 Điều 16 của Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành, Nghị định 134/2016/NĐ-CP còn có nhiều sơ hở, thiếu sót, dễ bị doanh nghiệp lợi dụng. Mặc dù khoản 3 Điều 6 Nghị định 08/2015/NĐ-CP đã quy định hàng hóa là nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để xuất hàng xuất khẩu đang lưu giữ tại các cơ sở sản xuất của doanh nghiệp vẫn còn luôn chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan đến khi hàng hóa xuất khẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng, nộp thuế xong. Tuy nhiên việc giám sát tại cơ sở sản xuất của doanh nghiệp chưa bao giờ là thuận lợi, dễ dàng, cơ quan Hải quan không thể giám sát liên tục tại doanh nghiệp được, đặc biệt là nơi có nhiều doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu. Hơn nữa, hiện nay doanh nghiệp được làm thủ tục đối với loại hình sản xuất xuất khẩu không nhất thiết phải thực hiện tại nơi có cơ sở sản xuất, nên việc giám sát, kiểm tra của cơ quan Hải quan càng khó khăn hơn do không thuộc địa bàn quản lý của mình. Điều này dẫn đến còn nhiều sơ hở trong quản lý đối với đối tượng này, đặc biệt là các đối tượng cố tình gian lận.

Thiết nghĩ, chúng ta cần sớm có các giải pháp quản lý tốt hơn, chặt chẽ hơn, sớm ban hành thông tư sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Thông tư 38/2015/TT-BTC để quản lý chặt chẽ đối với đối tượng miễn thuế là hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, tạo sự công bằng trong kinh doanh cho các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật, trừng phạt nghiêm khắc vi phạm và tránh sơ hở, thiếu sót để doanh nghiệp lợi dụng, gian lận, kinh doanh không lành mạnh.

Theo HQ Online

lich-cup-dien

GoldenCityAnGianglienhe-quangcaolienhe-quangcao

Liên kết Website

Góc doanh nghiệp

DoiThoaiTrucTuyentthcKienNghiDN3ttvtvttdn

Lượt truy cập

5266281
Hôm nay
Tất cả
10
5266281